Tình Yêu Qua Ngưỡng Cửa Di Trú (Phần 2) - Lịch Cấp Chiếu Khán Và Chuyển Diện Cư Trú Tháng 8-2016

Thứ Ba, 12 Tháng Bảy 201620:47(Xem: 7390)
Tình Yêu Qua Ngưỡng Cửa Di Trú (Phần 2) - Lịch Cấp Chiếu Khán Và Chuyển Diện Cư Trú Tháng 8-2016
Mục Di Trú và Thăng Tiến Đời Sống do Văn Phòng tham vấn di trú Robert Mullins International đảm trách hằng tuần, nhằm cập nhật tin tức và phát huy kiến thức di trú, rất hữu ích cho quý vị quan tâm đến việc bảo lãnh thân nhân. Chủ đề trên đây cũng được thảo luận trực tiếp trên trang nhà,www.rmiodp.com  vào mỗi tối  thứ Tư, từ 7:00-8:00 giờ và phát thanh, phát hình 24/24 trên www.facebook.com/rmiodp

(Robert Mullins International) Khách đến ngày đầu tiên với vẻ mặt lo âu, căng thẳng. Vì có vốn liếng Anh ngữ, anh tự làm đơn, nộp giấy tờ bảo lãnh cho hôn thê (fiancée) ở Việt Nam. Sau tờ biên nhận vài tháng, anh nhận được thư của cơ quan di trú Hoa Kỳ đòi bổ túc thêm chứng cớ về sự liên hệ của hai bên. Nhưng sau khi bổ túc theo yêu cầu, như anh cho biết, hồ sơ xin bảo lãnh hôn thê bị từ chối. Anh không hiểu tại sao và không biết phải làm sao? - một trở ngại khác, khách đến nhờ văn phòng làm lại bộ Công Hàm Độc Thân để về Việt Nam lấy chồng. Lý do: khách đã từng ly hôn nhưng không hề biết luật rắc rối ở Việt Nam đòi hỏi phải có thêm bộ "Ghi chú ly hôn". Và rất nhiều trường hợp khác gặp trở ngại từ Lãnh sự Hoa Kỳ ở Sài Gòn, làm sai bảo trợ tài chánh, không biết thủ tục kháng cáo khi bị từ chối, gặp khó khăn trong thủ tục khám sức khoẻ, và nhiều vấn đề nan giải khác... Chính vì vậy, điều mà các thân chủ quan tâm đầu tiên cho hồ sơ bảo lãnh là tìm một văn phòng chuyên môn đảm trách.

Uỷ thác niềm tin

Hầu hết thân chủ đều muốn đến một văn phòng chuyên về di trú được người thân quen giới thiệu. Người Việt mình trọng hai chữ "tín nhiệm". Khi những người thân quen giới thiệu một văn phòng dịch vụ đã hoàn tất thành công các hồ sơ bảo lãnh cho chính họ, thường mang lại niềm tin giới thiệu tiếp cho họ hàng, bạn hữu.... Sự tín nhiệm này luôn được người bảo lãnh ở Hoa Kỳ và người được bảo lãnh ở Việt Nam quan tâm. Một số đông khác chọn sự uỷ thác của mình qua những dịch vụ di trú được quảng cáo trên các cơ quan truyền thông. Tâm lý của nhiều người muốn chọn các văn phòng có người ngoại quốc và có chi nhánh dịch vụ ở Việt Nam. Khách cũng có thể thẩm định phần nào về những loại quảng cáo "giá rẻ bất ngờ" mà nhiều người đã phải ân hận khi lỡ "trao duyên" cho các văn phòng này. Khách cần lệ phí bảo lãnh trong tầm tay nhưng điều quan trọng vẫn là công việc bảo lãnh phải trôi chảy. Những văn phòng uy tín luôn xem trọng khách hàng, theo dõi hồ sơ như công việc nhà, và nhất là không thể có quan niệm "kiếm sống" bằng cách hứa hẹn với khách hàng những điều mà chính họ biết rằng không thể làm được.

Khách hàng biết rất rõ những văn phòng uy tín có thể giúp họ vượt qua những trở ngại, vì các văn phòng này được sự tín nhiệm trong cộng đồng, có uy tín với các công sở liên hệ đến di trú của chính phủ; cũng như có một đội ngũ chuyên viên giàu kinh nghiệm, tận tâm và chân thành.

Về phía bên nhà, người được bảo lãnh - vợ hay chồng - thường giao phó việc chọn lựa văn phòng cho người hôn phối bên Mỹ. Họ chỉ quan tâm khi hồ sơ gặp vấn đề: thời gian chờ đợi quá lâu hay gặp trở ngại với Lãnh sự Hoa Kỳ. Vấn đề lo âu đầu tiên là thủ tục giấy tờ làm Công Hàm Độc Thân của người bên Mỹ. Đối với các Sở Tư Pháp ở Việt Nam, mỗi tỉnh có "quyền" giải quyết thủ tục đang ký kết hôn theo kiểu của mình. Mặc dù hiện nay, năm 2016, thủ tục "đăng ký kết hôn" được nhà nước loan báo đơn giản hóa một chút, cho phép hạ một cấp cơ quan hành chánh lo việc này. Có nghĩa là thay vì Sở Tư Pháp Tỉnh giải quyết thì nay là cấp Thành Phố; hoặc cấp Quận, Huyện. Chưa biết việc "đơn giản hóa" này trong tương lai có dễ thở hơn trước  không nhưng nhiều cặp vợ chồng mới đây cho biết vẫn là kiểu "hành-chính" theo nghĩa vẫn "hành" là "chính"!
 
Người bảo lãnh chưa hề kết hôn thường dễ dàng hơn người đã từng ly hôn. Với tâm lý tiện lợi, người hôn phối ở Việt Nam vẫn thích những dịch vụ có thể lo "từ A đến Z", chẳng hạn như: lo luôn thủ tục đăng ký kết hôn (thường rất tốn kém), tổ chức nghi lễ đám cưới, tìm chỗ thuê xe cưới, tiệc cưới, giấy tờ bảo lãnh và những giấy tờ liên quan khác, giới thiệu và, nếu có thể, lo luôn việc hướng dẫn những chuyến đi hưởng tuần trăng mật....

Nhưng, các loại dịch vụ được quảng cáo lo "từ A đến Z" như đã kể trên thường để lại nhiều kinh nghiệm không vui cho khách hàng. Giống như sức khỏe vậy, người ta thường tìm đến các bác sĩ chuyên khoa hơn là bác sĩ toàn khoa, khi muốn được chữa bệnh đặc biệt của mình đến nơi đến chốn. Nhưng con đường được đoàn tụ với vợ, chồng ở Hoa Kỳ không phải lúc nào cũng như mặt nước hồ thu...

Đoạn trường ai có qua cầu mới hay....

Như các bài góp ý khác của văn phòng Robert Mullins International trước đây, việc bảo lãnh vợ-chồng, hay hôn phu-hôn thê, không còn dễ dàng như trước biến cố 11 tháng 9 năm 2001. Với tiêu lệnh "an ninh quốc gia", các cơ quan liên hệ đến di trú của chính phủ được toàn quyền về thời gian xem xét các hồ sơ bảo lãnh, nhất là những người bảo lãnh đến từ các quốc gia có tên trong "danh sách cần quan tâm". Cộng thêm việc thiếu nhân viên di trú và ngân sách thiếu hụt, các cơ quan di trú không thể nào làm khác hơn là chịu đựng những lời than phiền, đôi khi phẫn nộ, từ khách hàng về sự chậm trễ giải quyết hồ sơ bảo lãnh. Và các văn phòng chuyên trách về di trú cũng bị ảnh hưởng không ít về sự "kiên nhẫn" của khách hàng.

Thông thường, những khách hàng chọn được văn phòng chuyên môn và theo đúng sự hướng dẫn của văn phòng thì hồ sơ bảo lãnh được chấp thuận dễ dàng. Và ngược lại, hoặc vì những lý do "thầm kín" đi ra ngoài sự hiểu biết của văn phòng, những hồ sơ bị từ chối hẳn, hoặc được yêu cầu bổ túc thêm chứng minh, giấy tờ; hay phải chờ đợi quá lâu, phản ứng nóng nảy thường xảy ra và đôi khi bất chấp những lý giải hợp tình, hợp lý. Dù sao đi nữa, những phản ứng này có thể hiểu được và nên chia xẻ.

Trong hoàn cảnh này, người vợ ở Việt Nam thường có phản ứng sốt ruột dữ dội nhất, và cũng thường lên tiếng than trách những người liên hệ trong hồ sơ bảo lãnh. Người bảo lãnh, người chồng, luôn lãnh chịu những áp suất hối thúc từ người vợ, gia đình vợ, họ hàng và bạn bè bên vợ. Người bên ngoài thường hay góp ý, bàn tán và sự tưởng tượng đôi khi đi quá xa. Người chồng bên này đại dương bỗng chốc bị mang tiếng "không sốt sắng" và "có ý muốn" bỏ rơi người vợ bên nhà! Thí dụ không thiếu: Anh A đến văn phòng trong trạng thái mệt mỏi, xin tham vấn trường hợp bảo lãnh của anh. Vì muốn tiết kiệm tiền, anh đã tự làm hồ sơ bảo lãnh vợ, và hồ sơ gặp trở ngại phía Lãnh sự Hoa Kỳ ở Việt Nam. Họ của anh giống với họ của vợ. Lãnh sự yêu cầu anh và vợ anh phải nộp khai sinh của hai bên cha-mẹ. Anh không có khai sinh cha mẹ. Không biết xoay sở ra sao, anh đành thúc thủ và đã để hồ sơ kéo dài. Bên gia đình vợ "tiếng chì tiếng bấc", cho rằng anh muốn bỏ... vợ! Có lúc, lòng kiên nhẫn của anh mòn dần. Anh đến nhờ văn phòng giúp đỡ. Dĩ nhiên, vợ anh sau đó đã sang Mỹ đoàn tụ với anh và mọi việc sáng tỏ. Anh được rửa mối "hàm oan" và tình yêu ngày càng mặn nồng....

Ngày rời Việt Nam vốn là kỷ niệm khó quên. Nước mắt, nụ cười, thương nhớ, với biết bao kỳ vọng, mong chờ nơi xứ lạ quê người của người đi và những người ở lại. Một điều mà ít ai để ý là tại phi trường trong ngày tiễn biệt, người đi từ Sài Gòn thường được vây quanh đông đảo bởi toàn bộ gia đình và bạn bè thân thiết; nhưng số đông này nhỏ dần với những người đến từ các tỉnh xa xôi. Nhưng dù nhiều hay ít, tình cảm thân thương vẫn dạt dào.

Tuy nhiên, có người nói: "Hôn nhân không phải là thuyền cập bến mà bắt đầu ra khơi". Sau mười mấy giờ bay với nhiều thổn thức, những người vợ, người chồng sắp gần gũi nhau. Duyên phận thế nào, đó là chuyện mai hậu. Bởi thuyền đã bắt đầu ra khơi. Và đó lại là một chuyển tiếp khác của một đời sống muôn vàn đổi thay, và sẽ được gửi đến qúy vị trong Phần 3 của lọat bài này trong kỳ tới.

LỊCH CẤP CHIẾU KHÁN VÀ CHUYỂN DIỆN CƯ TRÚ THÁNG 8-2016

(1) - IR-1, IR-2, IR-5:Vợ, con vị thành niên, cha mẹ của công dân Hoa Kỳ, luôn luôn hiệu lực

(2) - Diện F-1: Con độc thân, trên 20 tuổi, của công dân Mỹ: Ngày 22/05/2009 (Tăng 8 tuần)

(F-1  Xin Chuyển Diện Cư Trú Tại Hoa Kỳ: 01/01/2010)

(3) - Diện F2A: Vợ hoặc chồng và các con nhỏ của thường trú nhân: 15/11/2014 (Không thay đổi)

(F2A Xin Chuyển Diện Cư Trú Tại Hoa Kỳ: 22/11/2015)

(4) - Diện F2B: Con độc thân, trên 20 tuổi, của thường trú nhân: Ngày 08/01/2010 (Tăng 4 tuần)

(F2B Xin Chuyển Diện Cư Trú Tại Hoa Kỳ: 08/02/2011)

(5) - Diện F-3: Con đã lập gia đình của công dân Mỹ. Ngày 01/12/2004 (Không thay đổi)

(F3 Xin Chuyển Diện Cư Trú Tại Hoa Kỳ: 22/08/2005)

(6) - Diện F-4: Anh chị em của công dân Mỹ: Ngày 15/09/2003  (Tăng 1 tuần)

(F4 Xin Chuyển Diện Cư Trú Tại Hoa Kỳ: 15/06/2004)

(7) - Tu Sĩ-SR: Luôn luôn hiệu lực

Hỏi Đáp Di Trú

- Hỏi: Em của tôi vừa đến Hoa Kỳ với chiếu khán di dân. Trước khi nhận Thẻ Xanh, em tôi có thể trở về Việt Nam để giải quyết một số công việc và sau đó lại dùng chiếu khán di dân dể tái nhập cảnh Hoa Kỳ?

- Đáp: Chiếu Khán Di Dân (Immigarnt Visa) là loại chiếu khán chỉ được cấp một lần và dùng một lần. Nếu em của anh muốn trở về Việt Nam trước khi có Thẻ Xanh, anh ấy có thể sử dùng sổ thông hành Việt Nam có đóng dấu mộc di trú của Hoa kỳ Khi nhập cảnh. Dấu mộc này có ghi ngày nhập cảnh và diện nhập cảnh. Dấu mộc này tương được với Thẻ Xanh tạm và có giá trị một năm. Hoặc em của anh sẽ cần xin Giấy Phép Tái Nhập Cảnh (tức Re-entry Permit). Việc xin Giấp Phép Tái Nhập Cảnh mất thời gian khá lâu, vì thế, anh ấy có thể nhận được Thẻ Xanh trước khi nhận được Giấy Phép Tái Nhập Cảnh.

- Hỏi: Thời gian thông thường phải chờ đợi Lãnh sự Hoa Kỳ duyệt xét những hồ sơ bị từ chối là bao lâu, và có thể làm gì để thúc đẩy việc duyệt xét nhanh hơn không?

- Đáp: Hầu hết các hồ sơ này phải đợi khoảng 6 tháng để được duyệt xét. Chỉ có những trường hợp y tế khẩn cấp mới có thể được quan tâm như một lý do chính đáng để thúc đẩy việc duyệt xét nhanh hơn. Điều cần là kiên nhẫn và quan tâm đến việc liên lạc với Lãnh sự Hoa Kỳ để hỏi thăm về kết quả duyệt xét hồ sơ.

- Hỏi: Cách nào tối nhất để điền đơn Bảo Trợ Tài Chánh I-864 mà không bị sai sót?

- Đáp: Nếu tự làm đơn khai thuế cho chính mình, qúy vị có thể điền đơn I-864 chính xác. Nếu thuế của qúy vị do một nhân viên chuyên môn phụ trách, qúy vị vẫn có thể điền đơn này với sự giúp đỡ của những người có kinh nghiệm điền đơn I-864.

Kính mời quý độc giả đón đọc chủ đề Di Trú và Thăng Tiến Đời Sống trên các báo chí Việt ngữ địa phương số cuối tuần, hoặc nghe trực tiếp chương trình của chúng tôi vào mỗi tối thứ Tư  trên các làn sóng: Bắc Cali 1430AM, 7:00-8:00, Nam Cali 106.3FM,7:00-7:30.  Phát lại  vào  Chủ Nhật từ 2:00-3:00PM trên làn sóng 1500AM, và 24/7 trên trang nhà: www.rmiodp.com. Hoặc www.facebook.com/rmiodp.  Hay liên lạc với văn phòng Robert Mullins International gần nhất: Westminster: (714) 890-9933 , San Jose (408) 294-3888, Sacramento (916) 393-3388, Rạng Mi: 84-3914-7638 hay Email: info@rmiodp.com
Chủ Nhật, 14 Tháng Mười 2018(Xem: 18)
Trong thời gian gần đây, rất nhiều đồng hương Việt Nam liên lạc với các Văn Phòng Robert Mullins International để hỏi thăm về luật mới liên quan đến các nguồn lợi ích xã hội mà nhiều người đang được hưởng hợp pháp nhưng sẽ gặp rắc rối nếu luật mới về gánh nặng xã hội được áp dụng. Sau đây là một số điểm chính liên quan đến luật mới được đề nghị thi hành.
Chủ Nhật, 07 Tháng Mười 2018(Xem: 108)
Nghị quyết Tiếp tục giải quyết thời hạn cho các quyết định chưa được thực hiện về tài trợ và chương trình của chính phủ, bao gồm chương trình đầu tư trung tâm vùng, đã được gia hạn đến ngày 7 tháng 12 năm 2018. Chương Trình Trung Tâm Vùng (The Regional Center Program) khởi sự từ năm 1992 và trong mười năm, chương trình này thường được gia hạn từ một đến ba năm. Sau tháng Chín 2015, việc gia hạn bị cắt ngắn rất nhiều. Hiện nay chương trình đầu tư được gia hạn thêm chỉ có hai tháng. Nghị quyết Tiếp tục ngụ ý rằng chương trình đầu tư trung tâm vùng sẽ vẫn giữ nguyên trạng cho đến ngày 7 tháng 12 năm 2018, hoặc cho đến khi ban hành một luật mới tái ủy quyền hoặc loại trừ chương trình trung tâm vùng trong tương lai.
Chủ Nhật, 30 Tháng Chín 2018(Xem: 279)
Hàng vạn người Việt Nam đã đến Mỹ thông qua Chương trình Người tị nạn của Chính phủ Mỹ sau ODP bắt đầu vào năm 1989. Bây giờ, hãy xem Chương trình Người tị nạn đang thay đổi như thế nào: 19 tháng vừa qua, Tổng thống Donald Trump và Chính phủ của Ông đã thay đổi việc tiếp nhận người tị nạn vào Mỹ. Họ đã thực hiện điều này bằng cách sử dụng các sắc lệnh hành pháp và những thay đổi hành chánh được thực hiện một cách kín đáo. Ông Trump đề ra mức trần tị nạn hàng năm vào năm 2018 là 45.000, con số thấp nhất kể từ khi chương trình người tị nạn được lập ra vào năm 1980. Và vẫn chưa hết, Mỹ dường như nhận ít hơn phân nửa số người tị nạn năm nay.
Thứ Hai, 24 Tháng Chín 2018(Xem: 302)
Trong tháng Tám vừa qua, Tổng thống Donal Trump lại xác nhận rằng 1) các chính phủ ngọai quốc chọn người nhập cảnh Hoa Kỳ qua những lọai chiếu khán (visa) đa dạng, và 2) các chính phủ này chọn bọn giết người và gửi qua Hoa Kỳ. Đây là những tin Giả. Dữ kiện thứ nhất: Những người ngọai quốc nộp đơn xin chiếu khán xổ số trên mạng điện tử và việc chọn lựa được thực hiện hòan tòan ngẫu nhiên tại Hoa Kỳ. Các chính phủ ngọai quốc không hề giữ vai trò gì để có thể quyết định ai sẽ được chiếu khán lọai đa dạng này. Bộ Ngọai Giao Hoa Kỳ không cho phép bất cứ chính phủ ngọai quốc nào chọn ai sẽ đến Hoa Kỳ.
Thứ Hai, 17 Tháng Chín 2018(Xem: 3187)
Cố vấn Tòa Bạch Ốc, Stephen Miller, vừa đưa ra một kế họach di trú mới nhưng đã gây khó khăn cho người di dân và những người con sinh đẻ ở Hoa Kỳ, dù kế họach nay chưa thành luật chính thức. Một đề nghị về chính sách mới của Tòa Bạch Ốc sẽ gây khó khăn cho người di dân muốn có thẻ xanh nếu họ đã từng sử dụng bất cứ lọai lợi ích công cộng nào, kể cả những phụ cấp bảo hiểm và những lọai tín dụng thuế. Cần ghi chú rằng đây vẫn chỉ là đề nghị và vẫn chưa thành luật. Tuy nhiên, đề nghị này đã làm nản lòng một số di dân không dám xin những chương trình xã hội mà họ cần. Vì thế, mặc dù đề nghị này chưa thành luật nhưng vẫn làm cho người di dân sợ nộp đơn xin những lợi ích mà họ được quyền thụ hưởng.
Chủ Nhật, 09 Tháng Chín 2018(Xem: 425)
Nhiều công ty liên quốc gia họat động ở Hoa Kỳ và Việt Nam. Và có nhiều công ty nhỏ hơn có văn phòng làm việc ở hai nước này. Một số công ty nhỏ hơn đã từng chuyển các nhân viên quản lý và điều hành làm việc ở các chi nhánh Hoa Kỳ trong một thời gian ngắn. Họ đã đến Hoa Kỳ với diện chiếu khán L-1. Chiếu khán L-1 có giá trị tối đa 7 năm và họ không thể xin Thẻ Xanh. Các nhân viên quản lý và điều hành diện L-1 có thể làm gì để có thể ở lại Hoa Kỳ để xin quy chế thường trú nhân? Trong một số trường hợp, câu trả lời sẽ là diện chiếu khán EB-1C.
Thứ Hai, 03 Tháng Chín 2018(Xem: 567)
Giám đốc Sở di trú cho biết sẽ cần thêm thời gian để đưa ra những quy định mới cho chương trình đầu tư EB5. Chương trình chiếu khán (visa) đầu tư EB5 có 10.000 chiếu khán mỗi năm được cấp cho người ngoại quốc và gia đình họ có thể được cấp quy chế thường trú nhân, và có cơ hội xin nhập tịch Hoa Kỳ sau đó, nếu họ đầu tư ít nhất 500.000 mỹ kim cho một doanh nghiệp tại Hoa Kỳ, ở một vùng thôn quê đủ tiêu chuẩn hoặc ở vùng đô thị nhưng có tỉ lệ thất nghiệp cao.
Thứ Hai, 27 Tháng Tám 2018(Xem: 592)
Ngày 25 tháng Tám năm 2018. Chúng ta nói lời "giã từ" với Thượng nghị sĩ John McCain. Vào ngày 26 tháng Mười năm 1967, chiếc máy bay của ông đã bị bắn trong chuyến công tác thả bom những căn cứ quan trọng của nhà nước Cộng sản Bắc Việt tại Hà Nội. Ông đã nhảy dù, gẫy hai tay và chân phải. Dù của ông đã rơi xuống hồ và dân làng ở miền Bắc đã cứu ông. Ông bị đưa về Hà Nội và bị giam tại nhà tù Hỏa Lò, nơi ông đã phải trải qua 5 năm rưỡi và thường xuyên bị tra tấn.
Thứ Sáu, 24 Tháng Tám 2018(Xem: 692)
Thứ Ba, 03 Tháng Mười 2017(Xem: 5277)
Khởi thủy, chính phủ nói rằng sẽ có những luật mới giới thiệu về chương trình đầu tư này vào cuối tháng 9 năm 2017. Nhưng bây giờ họ nói rằng không có gì thay đổi cho đến tháng 12 năm 2017. Những người hiểu biết về cách làm việc tại Hoa Thịnh Đốn đều tin rằng chương trình sẽ vẫn tiếp tục, không có gì thay đổi cho đến giữa năm 2018 hoặc trễ hơn. Vì thế, các nhà đầu tư vẫn còn có thời gian gia nhập vào chương trình đầu tư trung tâm vùng, với số vốn đầu tư là 500 ngàn mỹ kim.